





![]() | Hôm nay | 97 |
![]() | Tất cả | 41233 |
Tế bào B và sự lão hóa : phân tử và cơ chếMichael P. Cancro Yi Hao, Jean L. Scholz, Richard L. Riley, Daniela Frasca, Deborah K. Dunn-Walters and Bonnie B. Blomberg Các tiến bộ khoa học gần đây cho phép tiến hành những biến đổi có liên quan tới sự lão hóa trong chức năng của tế bào B ở mức độ cơ chế. Sự giảm biểu hiện của những gen quyết định tới sự duy trì dòng và hiệu suất biệt hoá làm giảm sản xuất tế bào B . Hơn nữa, những khác biệt về bản chất trong chương trình thiết lập bởi các tiền tế bào B của các cá thể già cỗi, cùng với sai sót trong tỉ lệ sản xuất tế bào B và cạnh tranh nội cân bằng trong vòng đời dẫn đến thu hẹp mức độ đa dạng dòng. Tương tự, sự suy giảm các gen cần thiết cho sự tái tổ hợp của nhóm globulin miễn dịch và các siêu đột biến tế bào sinh dưỡng gây ảnh hưởng lên hiêu quả đáp ứng miễn dịch thể dịch. Tóm lại, những phát hiện này thiết lập nền tảng cho các phân tích tổng hợp về cách những thay đổi liên quan đến tuổi ở mức độ phân tử, tế bào và quân thể tương tác với nhau để tạo ra một kiểu hình lão hoá chung. lược dịch: NTT Thông tin chi tiết đọc thêm tại link:http://www.cell.com Những chứng đau nửa đầu có liên quan tới sự đột biến genMột đột biến di truyền mới được phát hiện có sự liên quan mật thiết với một dạng của chứng đau nửa đầu, các nhà nghiên cứu cho hay. Nhóm nghiên cứu dưới sự đứng đầu là một nhà điều tra học của học viện y học Howard Hughes (HHMI) tại trường đại học của California, San Francisco (UCSF), đã đưa ra bằng chứng cho thấy sự liên quan của đột biến với chứng đau nửa đầu ở người trên mô hình chuột và trong môi trường tế bào ở phòng thí nghiệm. Đột biến gen này được hiểu như là gen casein kinase I delta (CKIdelta). Theo nhà nghiên cứu Louis J. Ptácek, M.D “Đây là gen đầu tiên trong những đột biến được cho là nguyên nhân tiêu biểu của chứng đau nửa đầu”. Một nghiên cứu viên tại HHMI và một giáo sư của UCSF nói thêm “ đó là một cái nhìn thoáng qua ban đầu trong một chiếc một chiếc hộp đen mà chúng ta chưa thể hiểu biết hết’’. Những chứng đau nửa đầu là tiêu biểu cho những cơn đau đầu gay gắt và kèm theo các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, sợ ánh sáng (nhạy cảm với ánh sang). Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học lần đầu phân tích sự di truyền trong 2 gia đình với chứng đau nửa đầu thường xuyên và đã phát hiện ra tỷ lệ có ý nghĩa của những người mắc bệnh trong cả 2 gia đình có mang đột biến hoặc là kết quả của một người lành mang gen đột biến. Trong phòng thí nghiệm thì nhóm nghiên cứu đã chứng minh được rằng đột biến làm giảm bớt sản phẩm của enzyme casein kinase I delta, được biết là nhằm thực hiện một nhóm những chức năng cần thiết cho sự sống của não và cơ thể .” Điều đó đã cho chúng ta thấy rằng đột biến thực sự có tầm quan trọng hóa sinh ” Dr. Ptácek cho hay. Sau đó các nhà khoa học đã nghiên cứu tỉ mỉ thêm những tác động của đột biến trên một dòng chuột có mang gen bệnh. “ Rõ ràng là chúng tôi ko thể nào đánh giá được cơn đau đầu ở chuột ” Dr. Ptácek chú thích “ nhưng có những thứ khác có thể dẫn đến chứng đau nửa đầu mà chúng ta có thể đánh giá được” , ngưỡng đau, Dr. Ptácek giải thích, có thể thấp hơn ở chuột bởi sự quản lý của nitroglycerin. Chuột đột biến có ngưỡng đau bên ngoài ( ngoại vi ) nitroglycerin gây ra thấp hơn đáng kể so với chuột bình thường . Một điểm khác của bằng chứng là ức chế vỏ não lan rộng (CSD), một sóng điện “câm“ ở não mà theo sau sự kích thích điện, lan ra ngoài từ một điểm kích thích trong một khuôn mẫu đoán định trước. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ở chuột đột biến thì ngưỡng điện cảm ứng của sự ức chế vỏ não lan rộng (CSD) thấp hơn đáng kể . Những thí nghiệm của sự ức chế vỏ não lan rộng (CSD) là “ một điều hấp dẫn đặc biệt” Dr. Ptácek cho hay, bởi vì điều đó được hiểu rằng CSD lan truyền ra khắp bộ não với vận tốc 3mm / phút . Hình ảnh bộ não làm việc trong thùy chẩm của người với chứng đau nửa đầu thoáng qua, thay đổi với tỷ lệ như nhau trong dòng máu lan ra. Cuối cùng , Dr. Ptácek và nhóm nghiên cứu đã tìm ra những tế bào hình sao (thần kinh) ở trong não của chuột đột biến đã chỉ ra sự gia tăng Canxi được so sánh với những tế bào hình sao ở não của chuột thông thường . “ Điều đó rất có ý nghĩa, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng hoạt động của tế bào hình sao có liên quan rất mật thiết tới chứng đau nửa đầu” Dr. Ptácek cho hay. “ Đó là một enzyme, và cũng làm biến đổi các protein. Câu hỏi là một hay những protein nào bị nó biến đổi thì có liên quan tới chứng đau nửa đầu ? Nó đã thay đổi hoạt động của tế bào hình sao như nào và ra sao ?” Các nhà nghiên cứu chia sẻ “ Điều đó đem lại cho chúng ta một bước tiến gần hơn để tìm hiểu về con đường tín hiệu phân tử trong những cơn đau của chứng đau nửa đầu.” “ Và khi chúng ta có những hiểu biết rõ ràng thì chúng ta có thể bắt đầu nghĩ về những liệu pháp trị liệu tốt hơn. Những phân tử chưa biết nào đó có thể là đích cho những thuốc mới” . Đó là những viên thần dược của hiện tại, Dr. Ptácek chia sẻ , “ nhưng chúng chỉ có tác dụng với một vài bệnh nhân, trong một khoảng thời gian. Sự cần thiết cho việc điều trị tốt hơn là rất to lớn”. “ Đột biến CKIdelta không đơn thuần chỉ là một đột biến duy nhất có liên quan tới chứng đau nửa đầu.” Dr. Ptácek cảnh báo. “ Có khả năng là có một vài cái, những sự kết hợp khác nhau trong những cơ thể khác nhau. Chúng ta đơn thuần chỉ tìm ra điều đơn giản đầu tiên” Nghiên cứu được xuất hiện trên trang bìa của Science Translational Medicine phát hành đầu tháng 5. Bài báo có tên “ đột biến Casein Kinase Iδ trong nhóm bệnh đau nửa đầu và thời kỳ giấc ngủ tiên tiến Lược dịch: NHV Tần suất và đặc tính của những thiếu hụt sự methyl hóa DNA tại trẻ sinh thiếu cân
Bens S, Haake A, Richter J, Leohold J, Kolarova J, Vater I,Riepe FG, Buiting K, Eggermann T, Gillessen-Kaesbach G,Platzer K, Prawitt D, Caliebe A, Siebert R. Nhiều gen khác nhau nằm tại những vị trí imprinting (tạm gọi là dấu ấn di truyền) được điều hòa bởi cơ chế biểu sinh có liên quan tới kiểm soát sự phát triển và biệt hóa. Sự thay đổi kiểu hình của những rối loạn imprinting gợi ý rằng các cá thể với những sai sót bẩm sinh của “dấu ấn di truyền” có thể vẫn không được phát hiện trong những bệnh nhân là trẻ sinh thiếu cân (SGA). Đánh giá, định lượng phân tích sự methyl hóa DNA tại những vùng bị methyl hóa khác nhau (DMRs) của 10 vị trí imprinting (PLAGL1, IGF2R, DMR2, GRB10, H19 DMR, IGF2, MEG3, NDN, SNRPN, NESP, NESPAS) bằng phương pháp pyrosequencing bisulphite trên 98 bệnh nhân là trẻ sinh thiếu cân so sánh với 50 đối chứng. Đối với IGF2R DMR2, mẫu phân tích methyl hoá được bổ sung thêm 47 cặp bố mẹ và một mình mẹ (95 người) của những bệnh nhân trong nhóm trẻ sinh thiếu cân. 6 trong số 98 bệnh nhân là trẻ sinh thiếu cân đã phát hiện ra sự thay đổi methyl hóa DNA tại một vị trí đơn. Một trẻ được chẩn đoán với những triệu chứng upd(14)mat do đột biến epimutation* của vị trí MEG3 trong vùng 14q32 đã được chứng minh. 5 bệnh nhân còn lại cho thấy sự methyl hóa thấp tại GRB10 và vùng gắn H19 3CTCF, nhưng lại tăng cường methyl hóa tại NDN và IGF2. Sự tăng cường methyl hóa tại IGF2R DMR2 được phát hiện ở 5 bệnh nhân, 6 bố mẹ của nhóm trẻ sinh thiếu cân và ở 2 người thuộc nhóm đối chứng. Như vậy có thể kết luận rằng có tốn tại sự methyl hóa khác thường tại những vị trí imprinting của trẻ sinh thiếu cân nhưng dường như rất hiếm xảy ra nếu như những triệu chứng imprinting bị loại bỏ. Nghiên cứu xa hơn sự biến đổi sinh lý và hậu quả về chức năng của sự methyl hóa bất thường là cần thiết trước khi đưa ra kết luận cuối cùng trên những tác động lâm sàng có thể được rút ra. * Đột biến epimutation: Đột biến ngoài gen (là những biến đổi có thể di truyền nhưng không làm sai lệch trình tự DNA, vị dụ như mức độ hay tần suất methyl hoá, histon hoá…) Thông tin chi tiết có thể đọc tại link: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed Lược dịch: NHV Hệ thống tín hiệu IGF1R và chất ức chế tyrosin kinase đích trong ung thưTín hiệu của thụ thể yếu tố tăng trưởng giống Insulin typ 1 (IGF1R) đóng 1 vai trò then chốt trong sự phát triển của tế bào bình thường cũng như sự phát triển và nhân lên của tế bào ung thư. IGF1R và các yếu tố phát triển giống Insulin 1 và 2 (IGF1 và IGF2) liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của kiểu hình ác tính. Điều này gợi ý rằng IGF1R là một đích tiềm năng cho liệu pháp điều trị ung thư. IGF1R là một thành phần quan trọng trong sự thiết lập và duy trì trong sự biến đổi kiểu hình, trong điều hoà sinh sản, và sự tồn tại của những tế bào khối u với sự phát triển linh động, không phụ thuộc vào giá thể (anchorage-independent growth)*. IGF1R cũng gây ra hoạt động chống lại sự chết theo chương trình của tế bào, và có ảnh hưởng đáng kể trong sự kiểm soát kích cỡ tế bào và cơ thể. Đặc tính này cho phép những tế bào bị biến đổi thành dạng khối u lớn và quá trình di căn. Các công ty dược phẩm đang nghiên cứu các phân tử mà đích đến là IGF1R, bao gồm những chất ức chế tyrosine kinase có trọng lượng phân tử thấp đặc hiệu và các kháng thể đơn dòng. Bài tổng quan này chỉ tập trung vào sự phát triển tiền lâm sàng và tiền lâm sàng của những chất ức chế tyrosine kinase IGF1R trọng lượng phân tử thấp. Đây là điều then chốt để tiếp tục xem xét kỹ lưỡng hơn các hoạt động chuyển hóa của IGF1R để ngăn ngừa những tác dụng phụ có thể xảy ra. Chi tiết có thể tìm đọc tại link: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed Lược dịch: NHV |
- CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH HEMOPHILIA A
- Bằng chứng cho thấy điều hoà làm giảm biểu hiện IGF2 ở những mô sau sinh và tăng trong mô ác tính bởi E2f3
- Xác định nhanh, nhạy đột biến KRAS bằng Fast-COLD-PCR và phân tích bằng HRM
- Sự ổn định của thụ thể Cardiac ryanodine ngăn ngừa sự rò Canxi nội bào và chứng loạn nhịp tim




